Logo Banner
 
Hoạt động DSTT
Báo cáo sơ kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm 2013 của viện nghiên cứu ứng dụng DSTT
(Ngày đăng: 18/12/2013 - Lượt xem: 1336)
Phương pháp DSTT đã được ứng dụng và quảng bá hơn 17 năm, nay đã được nhân dân nói chung và các học viên nói riêng tin tưởng và tham gia luyện tập tại các Trung tâm, các CLB cũng như tại các điểm tập gia đình đã thành điều kiện thuận lợi tiên quyết cho phong trào DSTT.

BÁO CÁO SƠ KẾT KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG

6 THÁNG ĐẦU NĂM 2013

CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG DSTT

 

  1. Đặc điểm tình hình.
  1. Những thuận lợi:

Sáu tháng đầu năm 2013, diệu pháp DSTT đã và đang phát triển một cách bền vững trên 35 tỉnh, thành của đất nước. Phong trào DSTT đã có những điều kiện thuận lợi cơ bản:

 Phương pháp DSTT đã được ứng dụng và quảng bá hơn 17 năm, nay đã được nhân dân nói chung và các học viên nói riêng tin tưởng và tham gia luyện tập tại các Trung tâm, các CLB cũng như tại các điểm tập gia đình đã thành điều kiện thuận lợi tiên quyết cho phong trào DSTT.

Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, các cấp Đảng, chính quyền ở các địa phương đã quan tâm lãnh đạo điều hành phong trào DSTT. Liên hiệp các Hội khoa học cấp tỉnh của một số địa phương đã cho thành lập các Hội, các trung tâm tạo nên hệ thống tổ chức từ tỉnh đến làng xã đã tạo điều kiện cho guồng máy DSTT chạy đều. Đồng thời bảo đảm sự lãnh đạo triệt để của Đảng, sự điều hành của chính quyền đúng quy định.

Một điều kiện thuận lợi nữa là: Đội ngũ HLV, HDV đã được tôi luyện thử thách trong nhiều năm có đủ bản lĩnh, năng lực và thiện tâm luôn trung thành với má Hai Hương duy trì và phát triển phương pháp DSTT.

Quan tâm lãnh đạo phong trào, đầu tháng 4/2013, đoàn cán bộ lãnh đạo Viện do Viện trưởng Doãn Nho dẫn đầu đã có cuộc hành trình đến thăm các tỉnh miền Trung. Chuyến thăm ấy đã góp phần động viên khích lệ phong trào. Củng cố niềm tin cho đội ngũ HLV, HDV đồng thời đánh giá đúng thực chất tình hình để tổ chức hội thảo thống nhất phương pháp tập luyện. Đó cũng là một thuận lợi đáng chú ý.

  1. Những khó khăn

Tuy thuận lợi nhiều nhưng vẫn còn nhiều khó khăn thách thức ở phía trước: Hầu hết các Hội, các Trung tâm chưa có trụ sở, các Câu lạc bộ, các điểm tập thiếu mặt bằng sinh hoạt và tập luyện. Kinh phí hoạt động hầu như là con số không. Đời sống HLV, HDV hết sức khó khăn, thiếu thốn. Ở một số địa phương, tuy HLV, HDV có thiện tâm nhưng do lực bất tòng tâm nên đã phải xin nghỉ. Khó khăn nhất là về nhiệm vụ xây dựng hệ thống tổ chức, nhất là hệ thống tổ chức cấp Hội, cấp Trung tâm của tỉnh huyện.

          Trong nội bộ DSTT lại phát triển thêm cách tập tập thể không như cách tập tự do của Bà Hai Hương tạo nên sự không thống nhất của HDV.

          Tuy vậy, nhìn chung phong trào DSTT 6 tháng đầu năm vừa qua vẫn phát triển một cách vững chắc và mang lại hiệu quả tốt đẹp.

  1. Hiệu quả của phong trào DSTT.

          Sau chuyến thị sát và nắm bắt tình hình DSTT ở các tỉnh Đắc Lắc, Khánh Hòa, Phú Yên, Đình Định, Gia Lai, Quảng Nam, Quảng Bình (tháng 4/2013) và sau khi đọc các bản báo cáo của các địa phương gửi về gồm có: Bình Định, Khánh Hòa, An Khê, Quảng Bình, Hà Nội, Hưng Yên, Lào Cai, Lai Châu, Đắc Lắc, Phú Yên, Ban lãnh đạo Viện thống nhất nhận định đánh giá: “Tuy phong trào DSTT còn gặp nhiều khó khăn thách thức do chủ quan và khách quan, một số nơi có chiều hướng trầm lắng. Nhưng nhìn chung phong trào  DSTT vẫn phát triển theo chiều hướng tích cực. Được sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, của các cấp Đảng, chính quyền, của các hội, các trung tâm, các đoàn thể quần chúng, nhất là được sự đồng thuận của Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật của các tỉnh. Bởi vậy phong trào DSTT đã đạt hiệu quả cao về cả tổ chức, đối tượng, lực lượng tham gia và hiệu quả cao trong tập luyện nâng cao sức khỏe, đầy lùi bệnh tật cho nhân dân, nhất là cho đồng bào nghèo ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số".

Lớp tập huấn dành cho các huấn luyện viên, hướng dẫn viên DSTT do Viện nghiên cứu ứng dụng DSTT tổ chức trong quý 4/ 2013. (ảnh Ngọc Lang)

Cụ thể như sau:

  1. Về tổ chức:

Trong các buổi tiếp xúc làm việc giữa đoàn cán bộ lãnh đạo Viện do Viện trưởng Doãn Nho dẫn đầu với Liên hiệp các hội KHKT các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Gia Lai, Quảng Nam, Quảng Bình về nội dung và công tác xây dựng tổ chức DSTT, nhất là tổ chức Hội, tổ chức Trung tâm cấp tỉnh, huyện đã có sự đồng thuận cao. Song do thời gian triển khai còn quá ngắn, nên việc phát triển các tổ chức cấp tỉnh mới trong 6 tháng năm 2013 chưa thực hiện được. Song sự đồng thuận ấy là tiền đề cho sự phát triển mai này.

Sáu tháng vừa qua, công tác tổ chức tuy có sự phát triển hơn năm 2012. Song chỉ là sự phát triển ở cấp huyện, quận và câu lạc bộ hoặc điểm tập: Đơn cử như Lai Châu tổ chức thêm 1 điểm tập, Đông Sơn Quảng Bình tổ chức thêm 9 điểm tập. Điển hình nhất là Hội DSTT Đăk Lăk không những là đã phát triển được nhiều điểm tập, nhiều CLB , nhiều Hội cấp huyện ở các bản làng hẻo lánh trước đây mà còn mở thêm được 9 điểm tập mới và đã làm xong thủ tục chuẩn bị ra mắt hai Hội DSTT cấp huyện đó là Hội DSTT Krong Pak, huyện Krongana. Hội DSTT Phú Thọ tổ chức hai lớp tập mới.

Sau cuộc gặp mặt và làm việc với đoàn cán bộ lãnh đạo Viện (tháng 4/2013), Ban giám đốc Trung tâm DSTT Khánh Hòa đã nhìn lại thực trạng, bước đầu nhận ra nguyên nhân của sự trầm lắng của phong trào, đã kịp thời kiện toàn lại, Ban giám đốc Trung tâm chỉ đạo các Câu lạc bộ hoạt động bước đầu có hiệu quả vực lại phong trào. Đồng thời đã có kế hoạch thành lập điểm tập ở huyện Ninh Hòa.

Đặc biệt nhất là: Trung tâm DSTT Bình Định, Ban giám đốc với sự nỗ lực lớn của mình trong việc lãnh đạo xây dựng phát triển phong trào DSTT nhằm đạt hiệu quả cao nên đã tạo được niềm tin cho các cấp Đảng, Chính quyền. Trung tâm đã được UBND tỉnh cấp đất, cấp sổ đỏ cho xây dựng trụ sở. Ban Lãnh đạo Trung tâm DSTT tỉnh đã quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, năng động vận động các nhà hảo tâm và đội ngũ HDV, HLV cũng như học viên đóng góp kinh phí xây nên một trụ sở kịp trước ngày giỗ Má Hai Hương.

Đó là trụ sở đầu tiên của một Trung tâm DSTT cấp tỉnh trong cả nước được xây dựng. Trụ sở ấy được khánh thành trên cái nôi của DSTT đã tạo được dấu ấn cho phương pháp của Má Hai Hương; khẳng định mạnh mẽ: từ đây DSTT đã có cơ sở hạ tầng bền vững. Đồng thời mở ra triển vọng lớn cho công tác tổ chức hoạt động DSTT .

Căn cứ vào đặc điểm và chủ trương của từng địa phương, các nơi đã hình thành các hình thức tổ chức khác nhau như:

  • Ở ĐăkLăk có Hội cấp tỉnh, huyện Hội cấp huyện, chi Hội cấp xã và các điểm tập ở các bản, làng, phường phố.
  • Ở Phú Yên, Bình Định, Khánh Hòa có tổ chức Trung tâm DSTT các tỉnh, CLB cấp huyện, cấp xã, điểm tập ở phố, phường, xã, thôn và điểm tập gia đình.
  • Ở Quảng Bình có tổ chức CLB cấp phường.
  • Ở Phú Thọ có Hội cấp tỉnh, cấp huyện, có CLB cấp xã và điểm tập gia đình. Đặc biệt Hội DSTT tỉnh Phú Thọ đã chú trọng xây dựng điểm tập gia đình có hiệu quả cao: Tổng số học viên tham gia ở đây là 1050 người thì có tới 800 người tham gia điểm tập gia đình. Có thể nói đó là một mô hình cần nghiên cứu và xây dựng.
  • Ở Lai Châu có tổ chức CLB cấp tỉnh do Hội người cao tuổi tỉnh phụ trách.
  • Ở Lao Cai có tổ chức CLB cấp phường.
  • Ở Sóc Sơn có tổ chức CLB cấp xã.
  • Ở Hưng Yên có tổ chức CLB cấp thôn.
  • Ở nội thành Hà Nội có Trung tâm Viện, có CLB cấp phường.

Tuy nhiên công tác lãnh đạo duy trì hoạt động của các tổ chức có một số tồn tại cần phải nghiêm túc suy nghĩ như: Khánh Hòa để cho phong trào DSTT trầm lắng, Lao Cai, Sóc Sơn, Hưng Yên để cho lực lượng hội viên tham gia luyện tập giảm sút. Đơn cử như ở CLB Chi Long (Hưng Yên) số lượng hội viên CLB đăng ký ban đầu là 250 người nay chỉ còn 60 người luyện tập; ở CLB Phú Cường ngày đầu thành lập CLB có tới trên 200 người nay chỉ còn có hơn 100 người luyện tập.

Song hành cùng với sự củng cố và phát triển tổ chức ở cơ sở, Ban lãnh đạo Viện cũng đã chú trọng kiện toàn lại Văn phòng và tổ chức quản lý tài chính có quy cũ hơn trước. Với sự chỉ đạo sát sao của BLĐ Viện, sự nhiệt tâm của kế toán tình nguyện Nguyễn Thị Ngoãn và sự đồng thuận của các nhân viên HDV thuộc văn phòng, công tác quản lý tài chính đã đi vào quỹ đạo: vừa bảo đảm nguyên tắc vừa bảo đảm thu chi minh bạch có hiệu quả bước đầu. Việc thực hiện phương châm "Lấy từ thiện nuôi từ thiện" một số CLB đã thực hiện có hiệu quả nhất định. Điển hình như ở Lao Cai, Phú Cường, Lai Châu. Song nhiều đại phương chưa thực hiện được phương châm đó dẫn đến tình trạng không có kinh phí hoạt động, không có kinh phí bồi dưỡng cho HLV, HDV. Đơn cử như Hội DSTT ĐăkLăk có tới hàng trăm điểm tập, hàng ngàn học viên mà Hội không có tiền để gửi công văn đi các nơi... Đã đến lúc chúng ta cần phải chủ động và năng động tìm ra giải pháp vận động các học viên tùy tâm đóng góp kinh phí để thực hiện phương châm trên có hiệu quả.

  1. Đối tượng và số lượng tham gia luyện tập DSTT
  • Về đối tượng tham gia:

Nhìn chung vẫn giống như năm 2012, đối tượng tham gia đủ các thành phần, lứa tuổi: Từ trí thức đến người bình dân. Song có điều khác trước là nhiều nơi đã thu hút được nhiều cán bộ lãnh đạo, cán bộ, công nhân viên tại chức, sỹ quan quân đội, sỹ quan công an nhân dân đến điểm tập DSTT. Đơn cử như ở Phú Yên, ở Bình Định, Lai Châu, Đăk Lăk, Hà Nội v.v.. Thành phần tham gia nhiều nhất vẫn là phụ nữ, lứa tuổi trung niên và người cao tuổi. Một số trung tâm có xu hướng trẻ hóa đối tượng tập luyện như ở Đak Lak. Điều đó mở ra một hướng đi mới. DSTT không những tập luyện để nâng cao sức khỏe đẩy lùi bệnh tật cho những người có bệnh mà còn là phương pháp phòng bệnh cho những người khỏe mạnh. Đối tượng trẻ em khuyết tật vẫn được nhiều nơi quan tâm như ở Buôn Ma Thuột…

  • Về số lượng hội viên tham gia

Nhìn chung,theo số liệu báo cáo của các nơi gửi về, số lượng hội viên không những vẫn đảm bảo số lượng sinh hoạt như trước mà còn được tăng lên như ở Đăk Lăk tăng 1386 hội viên, Phú Thọ tăng 15 hội viên. Số hội viên và học viên đến tập có nơi tăng, có nơi giảm. Nhất là ở một số câu lạc bộ, số lượng sinh hoạt giảm. Song bình quân số môn sinh đến tập mỗi ngày trong cả nước là 8.382 người. Một số tỉnh có số người theo tập nhiều là Đăk Lăk: 4500 người, Phú Thọ: 1050 người, Phú Yên: 822 người, Bình Định: 630 người, Khánh Hòa: 361 người, Quảng Bình: 291 người, Tân Hưng: 220 người, Lai Châu 185 người, Phú Cường: 180 người, An Khê 170 người, Lào Cai 89 người v.v.. Nhìn chung số hội viên và học viên tham gia tập luyện giảm hơn năm trước.

  1. Hiệu quả nâng cao sức khỏe đẩy lùi bệnh tật.

Theo thống kê của các tỉnh gửi về thì 6 tháng đầu năm 2013. Tỷ lệ khỏi bệnh từ 50% đến khỏi hẳn là 66% (bình quân), trong đó hiệu quả cao nhất là: các bệnh nhân về mắt, hệ tiêu hóa (72.5%), hệ vận động (73.5%), hệ thần kinh (72.2%), hệ tuần hoàn (72%). Tỷ lệ khỏi bệnh từ 20-50% là 20%, tỷ lệ không khỏi bệnh là 10%. Đặc biệt nhất là một số căn bệnh nan y đã được những HDV tài năng chữa khỏi như bệnh ung thư trực tràng, ung thư vú, ung thư bàng quang và các loại u khác. Một số HDV cũng đã chữa bệnh cho một số bệnh nhân từ còng lưng thành thẳng lưng …(những nhân chứng điển hình đó ghi trong phần phụ lục).

Bản báo cáo lần này , chúng tôi xin phép được đăng tải đầy đủ những ca bệnh được chữa khỏi của các nơi gửi về trong phần phụ lục kèm theo.

  1. Hiệu quả về nghiên cứu khoa học, đào tạo và huấn luyện.
  • Ban lãnh đạo Viện đã có sự quan tâm nhất định đến công tác nghiên cứu khoa học, công tác huấn luyện và đào tạo đội ngũ HLV, HDV. Ấn phẩm khoc học: "Những phương thức phục hồi sức khỏe theo tự nhiên" của NHISHI KASUZO do TS. Trương Thị Thảo dịch đã thành tài liệu tham khảo cho đội ngũ HLV, HDV. Nổi bật nhất là: Trong thời gian qua tại 48 Trần Duy Hưng, Hà Nội; Viện đã chủ trì tổ chức hai cuộc hội thảo khoa học:
  • Cuộc hội thảo lần 1 vào hai ngày 25,26/5/2013
  • Cuộc hội thảo lần 2 vào hai ngày 7,8/7/2013 với 4 chủ đề sau:
  • Bài giảng cho các lớp tập DSTT, các câu lạc bộ, với các HLV, HDV của Viện phó, đại tá, nguyên Cục phó Cục An ninh quân đội Nguyễn Trần Mý
  • Biểu: Phương pháp tập luyện cơ bản DSTT do viện phó, tiến sỹ Trương Thị Thảo báo cáo.
  • Dưỡng sinh tâm thể với 38 mệnh đề và chủ đề.
  • “Tâm lành, thân lành, ngôn lành” do tiến sỹ Đặng Kim Nhung, viện phó, trưởng ban khoa học báo cáo.

Hiệu quả của hai cuộc hội thảo đã được phân tích đánh giá một cách thấu đáo về ý nghĩa, tác dụng và phương pháp thực hiện trong thông báo của viện. Ở đây chỉ ghi lại kết luận của bản thông báo ấy là: “Những trang tóm tắt kết quả hai kỳ hội thảo hy vọng sẽ chuyển đến tập thể các ban lãnh đạo cùng toàn thể HLV, HDV những tin vui, thổi vào phong trào DSTT trong cả nước luồng sinh khí mới, tràn đầy năng lượng của tình thương, niềm tự hào và niềm tôn kính đối với hương linh má Hai Hương lan tỏa đến cộng đồng quanh ta,góp phần làm lành mạnh xã hội”.

Không những ở viện mà Ban lãnh đạo các hội, các trung tâm DSTT của các tỉnh đã bước đầu chú trọng đến công tác đó: Hội dưỡng sinh tâm thể Phú Thọ đã chủ động hội thảo khoa học và phổ biến nội dung mới của DSTT cho HLV, HDV. Trung tâm DSTT Bình Định mở một trang web để đưa hoạt động của DSTT lên mạng để anh chị em HLV, HDV có điều kiện tham khảo. Tại hội DSTT Đak Lak có một số hình thức tuyên truyền giáo dục sinh động như: thi tìm hiểu kiến thức về DSTT , thi vẻ đẹp duyên dáng của DSTT hoặc viết báo, viết tập san nội bộ v.v..

  1. Ý nhĩa xã hội:

Tuy 6 tháng ngắn ngủi nhưng những thành quả huyền diệu của phong trào DSTT trên đây, không những đã giúp đỡ được cho hàng ngàn người thoát khỏi bệnh tật, sống cuộc sống hạnh phúc mà còn góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng của Đảng và Nhà nước, góp phần xây dựng nếp sống văn hóa, nếp sống thân thiện, yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Hầu hết các nơi đều chữa bệnh cho người nghèo nên đã góp phần thực hiện chủ trương xá đói giảm nghèo của Nhà nước… DSTT đậm đà tính nhân văn cao cả là vậy.

  1. Nguyên nhân thắng lợi

a) Nguyên nhân chủ quan:

  • BLĐ Viện luôn đàn kết nhất trí trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành cũng như trong đời sống đã tạo được niềm tin cho các tổ chức cơ sở và cho đội ngũ HLV, HDV cả nước. Ngược lại BLĐ cũng đã luôn bình tĩnh, lắng nghe và tôn trọng những ý kiến phản hồi của các Hội, các Trung tâm, các CLB và các HLV, HDV nên sự đoàn kết trên dưới luôn được củng cố và giữ vững.
  • Một nguyên nhân quan trọng nữa là: Vai trò của HLV và HDV trên mọi miền đất nước. Họ là đội ngũ trực tiếp truyền năng lượng tình thương cho các tầng lớp học viên. Đồng thời ngày lại ngày hướng dẫn cho học viên tập luyện nâng cao sức khỏe đẩy lùi bệnh tật. Cái tâm trong sáng của họ đã tạo nên tính nhân văn của phương pháp DSTT.
  • Hơn nữa, 6 tháng đầu năm 2013 đã xuất hiện các nhân tố như một luồng gió mới thổi vào phong trào DSTT như: Đại tá, biên tập viên cao cấp, đạo diễn phim Phan Văn Kiều tự nguyện sáng tác và triển khai làm bộ phim truyền thống nhiều tập về DSTT; tình nguyện viên Phương Anh mở ra kế hoạch xây dựng trang mạng DSTT và tình nguyên viên nhà báo Từ Ngọc Lang tự nguyện đảm đương chức vụ chủ nhiệm Webside DSTT. Luồng gió mới ấy góp phần làm cho phong trào DSTT thêm sôi động.

b) Nguyên nhân khách quan:

  • Sự quan tâm lãnh đạo và sự giúp đỡ tận tình của Liên hiệp UIA, nhất là của Tổng Giám đốc TS. Vũ Thế Khanh; sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Đảng; sự quan tâm quản lý điều hành của các cấp chính quyền; sự chỉ đạo trực tiếp của Liên hiệp các Hội khoa học cấp tỉnh. Tất cả mọi sự quan tâm lãnh đạo đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho phương pháp DSTT có thế đứng vững chắc trên mọi miền đất nước.

          Ban lãnh đạo Viện chân thành cảm ơn UBND tỉnh Bình Định đã cấp đất cho Trung tâm DSTT tỉnh xây nên một trụ sở đầu tiên của phong trào DSTT.

  • Bên cạnh sự quan tâm của các cấp lãnh đạo là sự quan tâm tài trợ của các nhà hảo tâm mà tiêu biểu là các nhà hảo tâm ở Hà Nội, ĐăkLăk, Bình Định và Tây Bắc cũng đã góp phần tạo nên vẻ đẹp và sức sống mới cho các tổ chức DSTT.
  • Song nhân tố quyết định nhất là niềm tin và lòng nhiệt tình tham gia tập luyện thường xuyên của các tầng lớp hội viên, học viên.
  1. Những tồn tại.

Tuy ưu điểm là cơ bản song vẫn còn những tồn tại sau:

  • Ban lãnh đạo Viện hiện nay phần lớn tuổi đã cao nên việc đi sâu đi sát các nơi để chỉ đạo và giải quyết kịp thời những tồn tại yếu kém còn hạn chế.
  • Công tác lãnh đạo Viện chưa chuyên nghiệp. Đa số cán bộ lãnh đạo còn kiêm nhiệm nên chưa chủ động trong công việc, chưa tập trung hết công suất cho phong trào.
  • Việc tuyên truyền quảng bá và thực hiện phương châm: LẤY TỪ THIỆN NUÔI TỪ THIỆN chưa tốt nên hiệu quả thấp. Nhiều nơi chưa thực hiện phương châm này dẫn đến tình trạng đội ngũ HLV, HDV không có thu nhập, thậm chí không có tiền xăng xe. Hầu hết các hội, các trung tâm, các CLB không có kinh phí gửi về viện.
  • Công tác đào tạo HLV mới hiệu quả thấp dẫn đến tình trạng thiếu HLV, HDV phục vụ các điểm tập, các CLB. Chưa chú trọng đúng mức đến khâu tập huấn cho đội ngũ HLV, HDV cũ.
  • Công tác tổ chức, nhất là việc triển khai thành lập các hội, các trung tâm cấp tỉnh còn dẫm chân tại chỗ do phụ thuộc vào chức năng của các tổ chức Liên hiệp KHKT địa phương.
  • Còn có hiện tượng HLV, HDV chưa hiểu sâu sắc phương pháp tập của Bà Hai Hương nên chưa bảo vệ được phương pháp trước quần chúng.
  • Còn có hiện tượng, một số HVL, HDV tu luyện tâm, ngôn chưa tốt, tự đề cao mình nên đã bị thu hồi thẻ chờ xử lý, như ở Bình Định. Đó đây còn có tình trạng HDV mất đoàn kết do thiếu thiện chí, thiện tâm nên đố kỵ, khinh thị, khinh thường nhau, nhất là nghi kỵ dựng chuyện, đổ lỗi cho đồng nghiệp. Đó là những lỗi lầm cần được khắc phục, sửa chữa, để cùng nhau xây dựng đội ngũ HDV DSTT đoàn kết thân thiện, gắn bó, cùng nhau nâng cao hiệu quả của phương pháp DSTT.

Những tồn tại trên làm giảm hiệu quả phong trào DSTT nói chung và là điểm cần đặc biệt lưu ý để chỉnh đốn trong thời gian tới trước thềm kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Viện và 10 năm ngày Má Hai Hương qua đời.

  1. Phương hướng lãnh đạo 6 tháng cuối năm 2013.
  • Chú trọng thực hiện phương châm: “Lấy từ thiện nuôi từ thiện” tại các điểm tập, tại các câu lạc bộ. Tích cực vận động các nhà hảo tâm tài trợ, giúp đỡ để tạo nguồn thu nhập cho đội ngũ HLV, HDV. Ít nhất cũng phải đảm bảo cho họ có tiền ăn Tết nguyên đán.
  • Tích cực vận động liên hiệp các hội khoa học cấp tỉnh thành lập các hội, các trung tâm DSTT cấp tỉnh, huyện.
  • Tùy đặc điểm từng địa phương các tổ chức DSTT cần đề ra nội dung phù hợp phát động thi đua 6 tháng cuối năm 2013 và cả năm 2014 để thiết thực chào mừng và tổ chức kỷ niệm 2 sự kiện trên.
  • 6 tháng cuối năm là mùa của DSTT. Các địa phương hãy tích cực vận động mở điểm tập, thành lập các câu lạc bộ để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
  • Tổ chức tập huấn cho đội ngũ HLV, HDV để trang bị đầy đủ hành trang và phương pháp tập luyện đã được viện thông báo./
  • Để chuẩn bị tốt cho Kỷ niệm 20 năm ngày thành lập viện (21/8/2015) yêu cầu: Văn phòng viện; các Hội, các Trung tâm của các tỉnh, các Câu lạc bộ sưu tầm tài liệu, kỷ vật, tranh ảnh, viết kỷ niệm sâu sắc về má Hai Hương, sáng tác các tiết mục văn nghệ gửi về Viện. Đồng thời vận động thiện tâm đóng góp kinh phí cho bộ phim: “Viện DSTT –Tuổi 20” do Ban lãnh đạo Viện thực hiện.

Những nhận định, đánh giá trên đây mang tính tổng quát nên chắc rằng chưa đầy đủ, chưa toàn diện và còn nhiều điều khiếm khuyết. Bởi thực tế bao giờ cũng phong phú và đa dạng hơn 1 bản báo cáo rất nhiều. Ban lãnh đạo Viện mong rằng Ban giám đốc các Hội, các trung tâm của các tỉnh, huyện, Ban chủ nhiệm các câu lạc bộ của các địa phương nếu thấy điều gì chưa đúng, chưa phải thì với tinh thần của DSTT góp ý chân thành thẳng thắn.

 

 

Hà Nội, ngày 4 tháng 8 năm 2013

TL. TỔNG GIÁM ĐỐC UIA

VIỆN TRƯỞNG

TS. DOÃN NHO

Tin tức khác